Feature Top (Full Width)

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Tin tức: Cẩn thận khi mua căn hộ dự án của tập đoàn FLC

Trong vai khách hàng đi mua nhà, chúng tôi phải nài nỉ mới được bảo vệ chiếu cố cho vào thăm dự án, với yêu cầu không được chụp ảnh. Quan sát tại công trường, móng của dự án có 2 tầng hầm thì phần xung quanh đã đổ bê tông ngang bằng mặt đất nhưng phía dưới chưa được thi công. Phần ở giữa móng bao gồm các hạng mục cột, trần sàn của hai tầng hầm vẫn chưa được hình thành.
Chưa hoàn thiện móng nhưng ngày 28.3, chủ đầu tư đã rầm rộ mở bán căn hộ ngay tại tầng 1 toà nhà FLC Landmark - là trụ sở tập đoàn FLC cách dự án không xa. Sau buổi mở bán, trang web của chủ đầu tư là flc.vn công bố thông tin đã bán được 200 căn hộ ngay trong ngày mở bán chính thức đầu tiên.
Ngày 7.4, tại Sàn giao dịch bất động sản, nhân viên ở đây giới thiệu với khách hàng, trong đợt mở bán lần 1 dự án FLC 36 Phạm Hùng, toàn bộ số căn hộ từ tầng 5 đến tầng 22 (mỗi tầng có 15 căn) đã được đưa ra thị trường. Hiện nay đa số căn hộ đều có khách đặt cọc, vào tiền đến 20 - 30% tuỳ căn hộ.
Trong khi đó, theo quy định tại Nghị định 71 ngày 23.6.2010 của Chính phủ, dự án muốn mở bán căn hộ phải xây dựng xong phần móng, trước khi mở bán chính thức phải có văn bản thông báo cho Sở Xây dựng trước ít nhất 15 ngày.

>> Dự án chung cư 99 Trần Bình sẽ mở bán ngay sau khi xong phần móng

Tiến sĩ Phạm Sĩ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, việc chưa hoàn thiện phần móng đã mở bán là vi phạm quy định của nhà nước. Theo ông Liêm, hiện nay, thị trường bất động sản vừa mới có dấu hiệu ấm lên nhưng đã tiềm ẩn nhiều yếu tố gây nhiễu loạn, không tốt cho người mua nhà. “Cơ quan chức năng cần phải kiểm soát chặt chẽ để tránh những hệ lụy đáng tiếc. Mỗi dự án khi bán phải được sự đồng ý của cơ quan chức năng sau khi kiểm tra thực tế hiện trường thi công”, ông Liêm nói.
Ngày 10.4, một cán bộ thanh tra xây dựng của quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) cho biết, dự án có những điểm cần làm rõ. Sở Xây dựng Hà Nội đã lập đoàn kiểm tra dự án này, và ngày 9.4, đoàn kiểm tra do ông Hoàng Ngọc Vinh, Phó chánh Thanh tra xây dựng thuộc Sở Xây dựng đã kiểm tra công trường dự án FLC 36 Phạm Hùng. Đoàn sẽ kiểm tra các vấn đề liên quan đến thủ tục giấy tờ, điều kiện khởi công xây dựng, thiết kế kỹ thuật của dự án.
Cũng theo vị này, trước khi Sở Xây dựng cử thanh tra kiểm tra dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, Thanh tra xây dựng quận Nam Từ Liêm đã 2 lần kiểm tra dự án này và từng lập biên bản thi công xây dựng không phép, yêu cầu đình chỉ.
Phóng viên đã nhiều lần liên hệ với lãnh đạo của tập đoàn FLC, chủ đầu tư của dự án FLC Complex - số 36 đường Phạm Hùng, để làm rõ thêm các thông tin, nhưng không nhận được phản hồi của lãnh đạo tập đoàn này.
Ngày 12.4, đại diện truyền thông tập đoàn FLC đã liên hệ hẹn gặp phóng viên. Tuy nhiên, tại cuộc gặp vào sáng 13.4, khi phóng viên đề cập trao đổi về các vấn đề nêu trên để phía tập đoàn FLC đưa ra những thông tin phản hồi thì vị đại diện truyền thông gạt đi, cho rằng chỉ gặp để "giao lưu".
Theo Báo Thanh Niên

Sở hữu đất đai và quyền sở hữu đất đai

Sở hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai - Cùng nghiên cứu vấn đề này với trumnhadat.net:
- Sở hữu theo pháp luật, như đã được xác định trong hồ sơ địa chính và văn bản quyền sở hữu, không trực tiếp sử dụng đất đai
- Sở hữu theo pháp luật và trực tiếp sử dụng, yêu cầu sử dụng đất đai theo đề nghị hay chuyên biệt.
- Quyền sở hữu pháp luật bởi cá nhân hay cơ quan nhưng phải được sự đồngý của những người khác để được quyền hưởng hoa lợi trên đó.
- Đất của nhà nước được quy định cho sử dụng thành công viên quốc gia hay  vùng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. 
- Đất của nhà nước cho người di dân thí dụ như những người đến lập nghiệptrên đất đó lâu năm và đang trực tiếp canh tác để hưởng hoa lợi.
- Đất của nhà nước có quyết định cho một số người hay công ty có quyền khai thác các tài nguyên sinh vật hay khoáng sản như gổ, khai mõ mà có những điều kiện hay không đòi hỏi phải khôi phục lại hiện trạng bao phủ như ban đầu.
- Đất của nhà nước trực thuộc trung ương, tỉnh hay địa phương với việc bảo tồn các khu di tích lịch sử có giá trị mà giới hạn nghiêm ngặt việc sử dụng cho các mục đích khác.
- Đất của cộng đồng hay được phong tặng cho một nhóm người dân tộc hay các di dân đến định cư trước đây để phục vụ cho mục đích chung mà không thuộc riêng ai như: sử dụng cho săn bắn, thu lượm sản phẩm. Đất này không phân chia và thuộc cá nhân nào.
- Đất của cộng đồng với sự đồng ý theo tập quán giữa cộng đồng người dân định cư tại vùng đó và những nhóm người sử dụng đất theo mùa xuyên qua vùng đó hay một phần đất đó thí dụ như quyền sử dụng đất trong mùa khô cho người dân du cư xuyên qua vùng đó; và
- Quyền sử dụng đất đai thông qua thừa kế giữa các thế hệ quyền sở hữu hay quyền thuê mướn, và cấp độ phân chia đất đai cho con gái hay con trai hoặc cho con trưởng hay con thứ hay cho các con bằng nhau theo hệ thống thừa kế đất đai.Như đã trình bày trong phần trên, "đất đai" bao gồm nguồn tài nguyên nước địa phương. Đặc biệt trên các vùng cao nguyên, có nhiều quyền lợi liên quan đến vấn đề sử dụng nước. Những vấn đề này bao gồm cả việc cung cấp nước cho sinh hoạt,  và vệ sinh, cung cấp nước tưới cho nông nghiệp và chăn nuôi gia súc. Trong những vùng đất cao và đất đồng bằng đều có các quyền về câu cá, cũng như được quyền sử dụng nguồn nước cho sơ chế các sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, đay, mè, da thú, và các loại da khác. Nếu tổ chức tốt, các quyền này có thể liên kết nhau để tránh trường hợp ô nhiễm nguồn nước cho vùng chung quanh và vùng hạ lưu được tạo ra do các hoạt động sơ chế của các chủ thể. Tất cả các quyền đều phải được tính đến trước để có trong quá trình thực hiện bất kỳ đề án quy hoạch nguồn tài nguyên đất đai nào.
Đầu tiên phải được khảo sát thực tế một cách cẩn thận thông qua ý kiến quần chúng, kiểm tra xem các chính sách hay quy định có đối kháng với những ước muốn thực tế của người dân không, và xem các quyền này có liên quan đến những chính sách chung của quốc gia và cấp Tỉnh về quyền sử dụng đất đai.
>>> Quyền sở hữu đất Chung cư 99 Trần Bình thuộc về ai?

Những chính sách này được nằm trong các luật: Luật cải cách ruộng đất, Đạo luật quyền sử dụng đất đai, Đạo luật về quyền có đất đai, Đạo luật về quyền sở hữu đất đai, những Luật về quyền cho thuê và sử dụng đất đai và những quy định về sở hữu đất đai ở cấp địa phương. Kế đến là các quyền sở hữu ở cấp làng xã về tài nguyên rừng tự nhiên, cây phân tán, mặt nước và những nơi có nước. Những quy định này thường rất chi tiết và được theo dõi, kiểm tra bởi cộng đồng xã hội, để có biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và trách những người độc quyền ngoài sự kiểm soát của cộng đồng. Những hệ thống về quyền sở hữu hay sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã và đang được phát triển mà có thể giải quyết được những mâu thuẩn không đáng có trong quá trình tăng trưởng kinh tế (đầu ra), bình đẳng (bình đẳng cho tất cả kể cả vấn đề giới tính), an ninh trong quyền sở hữu hay sử dụng đất đai, và bảo vệ và cải thiện nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Định nghĩa chức năng của đất đai

Cùng trumnhadat.net tìm hiểu chức năng của đất đai để nghiên cứu các vấn đề về sử dựng đất đai trong việc xây dựng các chung cư tại các thành phó lớn. 
Định nghĩa đất đai : Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm : Không khí, đấtvà lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai” (Lê Quang Trí, 1996).Tuy nhiên đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Riode Janerio, Brazil, (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất,bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ,sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại(san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá , nhà cửa.. ) (UN,1994; trong FAO, 1993). Như vậy đất đai có thể bao gồm:
- Khí hậu
- Đất
- Nước
- Địa hình/địa chất
- Thực vật
- Động vật
- Vị trí
- Diện tích
- Kết quả hoạt động của con người
Theo P. M. Driessen và N. T Konin (1992), chúng ta cần phân biệt giữa thuật ngữ đất và đất đai, vì đất chỉ là một trong những thuộc tính của đất đai bên cạnh các thuộc tính khác như: khí hậu, thời tiết, tập đoàn động thực vật,các hoạt động của con người - Các vùng tự nhiên mang tính đồng nhất về tất cả các thuộc tính của đất đai được gọi là các đơn vị đất đai (Land unit). Ðểmô tả một đơn vị đất đai chúng ta cần có các đặc tính đất đai (Landcharacteristics).Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai Việt Nam (1993) thì “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tếquốc dân”.Theo FAO (1995), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt sau: sản xuất, môi trường sự sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất); không gian sự sống; bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân dị lãnh thổ. Như vậy,có thể khái quát:
Ðất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất vàhoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tácđộng như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất.. .), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc.. .).Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Ðất là điều kiện vật chấtcần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau (Tổng cục Ðịachính, 1996).
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến hủy hoại môi trường đất, một số chức năng nào đó của đất bị yếu đi. Vấn đề sử dụng đất đai ngày càng trở nên quan trọng vàmang tính toàn cầu. Với sự phát triển không ngừng của sức sản xuất, chứcnăng của đất đai cần được nâng cao theo hướng đa dạng nhiều tầng nấc, để truyền lại lâu dài cho các thế hệ sau.Những thảo luận trên chủ yếu tập trung vào số lượng đất thích hợp cho sản xuấtlương thực. Tuy nhiên, đất đai có nhiều chức năng như sau:
- Đất đai là nền tảng cho hệ thống hỗ trợ sự sống, thông qua việc sản xuất sinhkhối để cung cấp lương thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệusinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp hay thông qua cácvật nuôi như nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản vùng ven biển.
Chức năng sản xuất.
- Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa sinh vật trong đất thông qua việc cung cấpmôi trường sống cho sinh vật và nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật,và vi sinh vật, ở trên và bên dưới mặt đất.
Chức năng về môi trường sống.
- Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hìnhthành một một sự cân bằng năng lượng toàn cầu giữa phản chiếu, hấp thu haychuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và của chu kỳ thủy văn của toàn cầu.Chức năng điều hòa khí hậu.
- Đất đai điều hòa sự tồn trử và lưu thông của nguồn tài nguyên nước mặt vànước ngầm, và những ảnh hưởng chất lượng của nước.
>>> Tìm hiểu chức năng sản xuất của đất đai ứng dụng trong chung cư 99 Trần Bình
Chức năng nước.
- Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho việc sử dụng của conngười. Chức năng tồn trữ.
- Đất đai có khả năng hấp thụ, lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguyhại. Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm.
- Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy vànhững hoạt động xã hội như thể thao, ngơi nghĩ.
Chức năng không gian sống.
- Đất đai còn là nơi chứa đựng và bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của loài người, và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đaitrong quá khứ. Chức năng bảo tồn di tích lịch sử.
- Đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyển của con người, đầu tư và sảnxuất, và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt củahệ sinh thái tự nhiên.
Chức năng nối liền không gian.
Khả năng phù hợp của đất đai cho các chức năng này thay đổi rất lớn trên thế giới. Những đơn vị sinh cảnh, như các đơn vị nguồn tài nguyên thiên nhiên, có những biến động riêng trong bản thân đó, nhưng những ảnh hưởng của con người thì tác động mạnh hơn trong những biến đổi này trong cả không gian lẫn thời gian. Những chất lượng đất đai cho một hoặc hơn một chức năng có thể được cải thiện, thí dụ như phương pháp kiểm soát xoái mòn, nhưng những hoạt động này thường ít hơn là những hoạt động làm suy thoái đất của con người.


Cấp độ quy hoạch tại quận Nam Từ Liêm cho khu vực chung cư 99 Trần Bình

Đơn vị qui hoạch cấp địa phương có thể là: huyện, hay một nhóm các xã hay một khu vực nằm trong vùng dự án. (Tại dự án chung cư 99 trần bình, cấp quy hoạch địa phương là quận Nam Từ Liêm). Ở cấp độ này, quy hoạch thường dễ dàng phù hợp với mong ước của người dân, và cũng kích thích sự đóng góp ý kiến của người dân địa phương trong quy hoạch. Trong bước đầu khi thảo luận qui hoạch ở cấp độ Tỉnh, chương trình thay đổi sử dụng đất đai hay quản lý phải được thực hiện mang địa phương tính. Về mặt chọn lựa, đây là mức độ đầu tiên của quy hoạch với những ưu tiên được đề ra bởi những người dân địa phương. Quy hoạch cấp địa phương thường thực hiện trong một vùng riêng biệt của đất đai với những gì sẽ được làm, nơi nào, khi nào và ai sẽ chịu trách nhiệm. Như:
- Lắp đặc hệ thống tưới, tiêu và những công việc bảo vệ;
- Thiết kế cơ sở hạ tầng: giao thông, vị trí chợ cho hàng nông sản, phân phối phân bón, thu gom các sản phẩm nông nghiệp, hay những hoạt động khác có quan hệ trực tiếp đến người dân;
- Vị trí các loại cây trồng chuyên biệt thích nghi cho từng vùng đất khác nhau, phân chia sử dụng đất theo giải thửa.
Ở cấp địa phương này thường cũng phải đáp ứng với những đòi hỏi trực tiếp từ thị trường; thí dụ như vùng thích nghi cho lúa, hay cây ăn trái phải phù hợp với những  đề nghị của các công ty có liên quan như: “đất này thích nghi, đất này không thích nghi; cần thiết phải quản lý thực hành; chi phí đầu tư cao nhưng thu hồi cũng cao...”
Nhìn chung, quy hoạch ở những cấp khác nhau cần có những thông tin ở những tỉ lệ khác nhau cũng như những thông tin ở mức độ tổng quát hóa. Những thông tin này có thể được xác định trong các bản đồ.
- Tỉ lệ bản đồ thích hợp nhất cho quy hoạch cấp quốc gia mà trong đó toàn quốc gia có được trong một tờ bản đồ có thể là 1/5.000.000, 1/1.000.000 hay lớn hơn.
- Trong khi đó thì quy hoạch cấp Tỉnh cần bản đồ tỷ lệ lớn hơn khoảng 1/50.000 hay 1/100.000, tuy nhiên ở cấp độ này có thể sử dụng những thông tin tóm lược ở các tỉ lệ bản đồ 1/250.000.
- Ở cấp độ địa phương, bản đồ có thể ở tỉ lệ giữa 1/20.000 đến 1/5.000 là tốt nhất.

Có thể sử dụng những bản đồ được tạo ra từ không ảnh để làm bản đồ nền ở cấp độ địa phương, vì kinh nghiệm cho thấy người dân địa phương có thể nhận diện ra từng khu vực nhà ở và ruộng đất của họ trên không ảnh. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, trong quy hoạch được chia ra làm 4 cấp, đó là: cấp quốc gia, cấp Tỉnh, cấp Huyện và cấp Xã. Do đó trong phương pháp và tỷ lệ bản đồ cho quy hoạch sử dụng đất đai cũng chi tiết hơn.

Thực trạng về sử dụng đất đai tại khu vực chung cư 99 Trần Bình

Nghiên cứu về thực trạng sử dụng đất đai khu vực chung cư 99 Trần Bình - khu chung cư đáng sống tại thủ đô Hà Nội trong 5 năm tới.
Sự gia tăng dân số trong các nước đang phát triển đang là áp lực đè nặng lên nguồn tài nguyên đất đai có giới hạn của họ và cũng là nguyên nhân gây ra sự suy thoái đất đai. Những phương pháp chuyên ngành cho việc quy hoạch để giảm bớt tình trạng này hiện nay vẫn chưa cho được hiệu quả, và phương pháp tổng hợp đòi hỏi phải bao gồm tất cả các chủ thể tham gia từ sự bắt đầu, điều tiết chất lượng và những sự giới hạn của mỗi thành phần đơn vị đất đai, đến tính sản xuất của các khả năng chọn lựa sử dụng đất đai. Những quan điểm và định nghĩa liên hệ đến phương pháp cụ thể nhằm hổ trợ cho việc thiết lập nên những vấn đề quyết định ở các mức độ quy hoạch khác nhau.
Những vấn đề sử dụng đất đai hiện tại đòi hỏi những giải pháp được tạo ra với sự hổ trợ của phương pháp tổng hợp trong vùng nông thôn và bán thành thị, thì thường được xuất phát từ những sự mâu thuẩn đối kháng giữa môi trường và phát triển. Tất cả việc này được thảo luận bao gồm xây dựng những quyết định để làm thế nào sử dụng những nguồn tài nguyên khan hiếm, tái lập lại vùng đất đai suy thoái hay cải thiện đất đai nông nghiệp chính, định cư những nông hộ nhỏ hay những nông trang cơ giới sẽ hổ trợ tốt hơn trong việc mỡ rộng dân số, hạn chế phát triển vùng đô thị vào trong các vùng nông nghiệp có chất lượng cao, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước khan hiếm, và những yêu cầu chuyên biệt cho phương pháp tổng hợp ngược lại với quy hoạch chuyên ngành của vùng ven biển.
Thực hiện phương pháp tổng hợp thì tùy thuộc vào những chính sách hổ trợ quy hoạch cho sử dụng và quản lý bền vững nguồn tài nguyên đất đai, để tăng cường những thể chế thực thi và để đảm bảo sự bao gồm và tham gia hành động của các chủ thể trong tiến trình xây dựng quyết định. Những hoạt động này sẽ được hổ trợ bằng sự thay đổi các số liệu cơ bản về nguồn tài nguyên tự nhiên và cách sử dụng, thông qua việc kết hợp sử dụng hệ thống thông tin địa lý GIS. Những phương tiện kinh tế và xã hội cũng được mô tả và được sử dụng để đảm bảo sự những đóng góp của các chủ thể trong việc thỏa thuận sử dụng đất đai.
Phương pháp tổng hợp cho quy hoạch sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất đai bắt buộc phải bao gồm tất cả các chủ thể trong tiến trình xây dựng quyết định cho tương lai của đất đai, và xác định đánh giá tất cả những đặc trưng chính của sinh học tự nhiên và kinh tế xã hội của các đơn vị đất đai. Điều này đòi hỏi sự xác định và thiết lập sự sử dụng hay không sử dụng của mỗi đơn vị đất đai về các mặt kỷ thuật thích hợp, khả năng kinh tế, xã hội chấp nhận và tính môi trường không suy thoái.
Phương pháp chuyên ngành thuần cho quy hoạch sử dụng nguồn tài nguyên đất đai cần phải tránh, vì với phương pháp này có thể đưa đến những sự suy thoái không đoán trước được. Liên quan đến vấn đề môi trường cần thiết phải được đặt lên hàngđầu do sự tăng trưởng quá nhanh của dân số trên thế giới, gia tăng những sự lệ thuộc vào nhau giữa các quốc gia và giữa các vùng trên thế giới, những chú ý tăng trưởng về giá trị của hệ sinh thái tự nhiên, và những nhận thức rằng những sử dụng đất đai hiện tại có thể ảnh hưởng đến hệ thống khí hậu toàn cầu. Phương pháp tổng hợp hơn hẳn phương pháp chuyên ngành là có ý nghĩa ngăn cản hay giải quyết được những mâu chuẩn liên quan đến sử dụng đất đai, khi nó đạt tối hảo tiến trình quy hoạch và thiết lập một môi trường có thể cho sự trung gian giữa, và xây dựng quyết định bởi, tất cả các  chủ thể ở giai đoạn ban đầu.
Dự đoán mức độ tăng dân số của thế giới có thể gấp đôi với khoảng 10 tỉ người vào năm 2050 (UNFPA, 1992; trong FAO, 1993). Do đó, hầu hết các nhà khoa học và chuyên gia trên thế giới đồng ý với nhau rằng cần thiết phải áp dụng những công nghệ nông nghiệp tiên tiến cho việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai để cung cấp lương thực đầy đủ, chất sợi, thức ăn gia súc, dầu sinh học và gổ lên gấp đôi. Trong thực tế, có những sự thiếu hụt đất đai trầm trọng trong nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
Trong một nghiên cứu gần đây của FAO (Alexandratos, 1995; trong FAO,
1993) ước lượng khoảng 92% của 1800 triệu ha đất đai của các quốc gia đang phát triển bao gồm luôn cả Trung Quốc thì có tiềm năng cho cây trồng sử dụng nước trời, nhưng hiện nay vẫn chưa sử dụng hết và đúng mục đích, trong đó vùng bán sa mạc Sahara ở Châu phi 44%; Châu mỹ lin và vùng Caribê 48%. Hai phần ba của 1800 triệu
ha này tập trung chủ yếu một số nhỏ quốc gia như: 27% Brasil, 9% ở Zaire, và 30% ở
12 nước khác. Một phần của đất tốt này vẫn còn để dành cho rừng hay vùng bảo vệ
khoảng 45%, và do đó trong các vùng này không thật sự được sử dụng cho nông
nghiệp. Một phần khác thì lại gặp khó khăn về mặt đất và dạng bậc thềm như khoảng
72% vùng Châu phi bán sa mạc và vùng Châu mỹ la tinh.
Trên 50% của 1800 triệu ha của đất để dành được phân loại ở cấp loại "ẩm", thí dụ như quá ẩm cho hầu hết các loại cây trồng và không thích hợp lắm cho sự định cư của con người, hay còn gọi là "vùng thích nghi kém cho cây trồng". Do đó, khả năng để mỡ rộng diện tích đất đai cho canh tác cây trồng thường bị giới hạn. Kết quả là tất cả những cố gắng để gia tăng sản lượng theo nhu cầu lương thực và các cái khác thì thường dựa chủ yếu vào sự thâm canh hóa cho sản xuất với những giống cây trồng có năng suất cao trong các vùng có tiềm năng cao. Đây là những vùng đất đai có đất tốt, địa hình thích hợp, điều kiện mưa và nhiệt độ thích hợp hay có khả năng cung cấp nước cho tưới, và dễ dàng tiếp cận với phân bón vô cơ và hữu cơ.
FAO ước lượng rằng (Yudelman, 1994; trong FAO, 1993), đất nông nghiệp có thể mỡ rộng được khoảng 90 triệu ha vào năm 2010, diện tích thu hoạch có tăng lên đến 124 triệu ha do việc thâm canh tăng vụ cây trồng. Các vùng đất có khả năng tưới trong các quốc gia đang phát triển đang được mỡ rộng tăng thêm khoảng 23,5 triệu ha so với hiện tại là 186 triệu ha.
Những nghiên cứu chi tiết hơn đang được thực hiện về tiềm năng tưới ở các
quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Châu phi. Những nghiên cứu này chủ yếu tập
trung trên các diện tích đất thích nghi kết hợp với các điều kiện địa hình và nguồn tài
nguyên nước mặt và nước ngầm để thực hiện với chi phí thấp và không làm hủy hoại
giá trị môi trường.
Kết quả của thâm canh hóa có thể xảy ra được trong các vùng đất thiên nhiên
ưu đãi hay trên các vùng đất mà con người phải can thiệp vào bằng đầu tư kinh tế như
phát triển hệ thống tưới tiêu. Như vậy cho thấy rằng trong một tương lai gần đây sẽ
giảm đi một cách có ý nghĩa diện đích đất/nông hộ nông thôn. Khả năng diện tích đất
nông nghiệp trên nông hộ trong các quốc gia đang phát triển được dự phóng bởi FAO 3
cho năm 2010 chỉ còn gần phân nữa là 0,4 ha so với cuối thập niên 80 là 0,65 ha, hình
ảnh này cũng cho thấy diện tích này sẽ nhỏ hơn vào những năm 2050. Ngược lại với
các quốc gia đang phát triển, các quốc gia phát triển sẽ có sự gia tăng diện tích đất
nông nghiệp trên đầu người do mức tăng dân số bị đứng chặn lại. Điều này sẽ dẫn đến
một số đất nông nghiệp sẽ được chuyển sang thành các vùng đất bảo vệ thiên nhiên,
hay vùng đất bảo vệ sinh cảnh văn hóa hoặc phục vụ cho các mục đích nghĩ ngơi của
con người (Van de Klundert, et al., 1994; trong FAO, 1993). Tình trạng của các quốc
gia nằm trong giai đoạn chuyển tiếp thì rất khó mà dự phóng bởi vì những tiến trình
hiện tại là đang chuyển đổi từ đất đai nông nghiệp thuộc nhà nước sang quyền sử dụng
đất đai tư nhân.
Sự ước đoán của FAO thì bị giới hạn theo tỉ lệ thời gian đến năm 2010, khi mà sự thay đổi khí hậu toàn cầu được mong ước là ảnh hưởng không đáng kể trong suốt thời gian này. Điều này có thể sẽ khác vào những năm 2050 hoặc sau đó. Hậu quả của các mô hình về sự thay đổi của khí hậu thì ở các quốc gia đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng xấu hơn là thuận lợi về mặc an toàn lương thực (Norse và Sombroek, 1995; trong FAO, 1993).
Quay về: Trang chủ